Mấy năm gần đây, phụ huynh dẫn con tới tiệm hay hỏi một câu giống nhau: có loại tròng kính nào đeo vô mà con hổng tăng độ nhanh nữa hông? Câu hỏi đó là hoàn toàn chính đáng, bởi nhiều bé mới lớp 3 lớp 4 đã cận 2 độ, mỗi năm đo lại là thấy nhích thêm nửa độ, nguyên một chồng kính cũ bỏ tủ.
Câu trả lời trung thực là: chưa có tròng kính nào chữa hết cận thị. Nhưng đúng là có một nhóm tròng kính được thiết kế riêng để làm chậm tốc độ tăng độ ở trẻ, và nhóm này đã được thử nghiệm lâm sàng bài bản, đăng trên các tạp chí nhãn khoa quốc tế. Bài này bà con mình đi sâu vào ba công nghệ đang được nhắc nhiều nhất: D.I.M.S. của HOYA (tròng MiYOSMART), H.A.L.T. của Essilor (Stellest), C.A.R.E. của ZEISS (MyoCare), cùng thiết kế MyCon của Rodenstock. Xem thử nghiên cứu thật sự nói gì, con số bao nhiêu, và điều gì quảng cáo ít khi nhắc tới.
Vì sao phải quan tâm tới tốc độ tăng độ, chứ không chỉ đo đúng độ?
Đeo kính đúng độ giúp bé nhìn rõ ngay hôm nay. Nhưng cận thị ở trẻ không đứng yên, nó đi kèm việc trục nhãn cầu (chiều dài của mắt tính từ trước ra sau) dài thêm mỗi năm. Trục càng dài thì độ cận càng cao, và võng mạc, hắc mạc bị kéo giãn mỏng đi theo.

Một phân tích gộp lớn đăng trên tạp chí IOVS năm 2020 (Haarman và cộng sự) tổng hợp dữ liệu nhiều nghiên cứu và cho thấy nguy cơ biến chứng tăng dần theo mức độ cận, so với người không cận:
- Thoái hóa hoàng điểm do cận thị: nguy cơ tăng khoảng 13,6 lần ở cận nhẹ, 72,7 lần ở cận trung bình và 845 lần ở cận nặng.
- Bong võng mạc: khoảng 3,15 lần ở cận nhẹ, 8,74 lần ở cận trung bình, 12,62 lần ở cận nặng.
- Đục thủy tinh thể và glôcôm góc mở cũng tăng theo mức độ cận.
Điểm đáng chú ý của nghiên cứu này là ngay cả cận nhẹ và trung bình cũng đã có nguy cơ đáng kể, chứ không phải chỉ cận nặng mới đáng lo. Vì vậy, mục tiêu của kiểm soát cận thị không phải là để bé đỡ phải đeo kính, mà là để con số độ cận lúc trưởng thành thấp hơn so với khi không can thiệp gì.
Bối cảnh ở nước mình cũng không nhẹ nhàng. Theo các thống kê được ngành y tế trích dẫn, tỷ lệ cận thị ở học sinh thành thị vào khoảng 20 đến 40%, nông thôn khoảng 10 đến 15%, một số trường nội thành Hà Nội và TP.HCM ghi nhận tới gần 50%. WHO từng cảnh báo tới năm 2050 có thể 80 đến 90% trẻ em ở châu Á, trong đó có Việt Nam, mắc cận thị.
Nguyên lý chung: tạo tín hiệu “phanh” cho mắt bằng myopic defocus
Tròng kính đơn tròng thông thường chỉnh cho ảnh rơi đúng lên võng mạc ở vùng trung tâm. Vấn đề là ở vùng ngoại vi võng mạc, ảnh lại có xu hướng rơi ra phía sau. Nhiều nghiên cứu trên động vật và trên người cho thấy tín hiệu ảnh rơi phía sau võng mạc (hyperopic defocus) có thể thúc mắt dài ra thêm.
Các tròng kính kiểm soát cận thị đảo ngược tín hiệu đó. Chúng giữ một vùng trung tâm trong suốt để bé nhìn rõ, đồng thời rải quanh vùng trung tâm hàng trăm cấu trúc quang học nhỏ để đẩy một phần ánh sáng hội tụ ra phía trước võng mạc (myopic defocus). Mắt nhận được tín hiệu “đủ rồi, chậm lại”, tốc độ dài trục giảm xuống.

Ba hãng lớn giải bài toán này theo ba cách khác nhau, và chính chỗ khác nhau đó tạo ra sự khác biệt về cảm giác đeo, về vùng nhìn rõ và về hiệu quả ghi nhận trong nghiên cứu.
Công nghệ D.I.M.S. của HOYA trên tròng MiYOSMART
Cấu tạo
D.I.M.S. (nhiều nơi viết liền là DIMS) là viết tắt của Defocus Incorporated Multiple Segments, tạm hiểu là nhiều vùng lệch tiêu được tích hợp. Tròng có một vùng trung tâm trong suốt để chỉnh tật khúc xạ, bao quanh là một vành rộng chứa hàng trăm ô nhỏ công suất khoảng +3,50D xếp theo cấu trúc tổ ong. Nhờ xếp đều như vậy, tín hiệu myopic defocus được duy trì liên tục ngay cả khi mắt bé liếc qua liếc lại chứ không chỉ khi nhìn thẳng.

Nghiên cứu nói gì
Thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng 2 năm của Lam và cộng sự, đăng trên British Journal of Ophthalmology năm 2020, thực hiện trên trẻ 8 đến 13 tuổi tại Hồng Kông, có 160 bé hoàn tất (79 bé đeo D.I.M.S., 81 bé đeo tròng đơn tròng thường):
- Độ cận tăng thêm sau 2 năm: 0,41D ở nhóm D.I.M.S. so với 0,85D ở nhóm đơn tròng, tức chậm hơn khoảng 52%.
- Trục nhãn cầu dài thêm: 0,21mm so với 0,55mm, tức chậm hơn khoảng 62%.
- 21,5% số bé đeo D.I.M.S. không tăng độ nào trong suốt 2 năm, trong khi nhóm đơn tròng chỉ có 7,4%.
Nghiên cứu theo dõi tiếp tới năm thứ 3 cho thấy hiệu quả vẫn duy trì, và nhóm trẻ ban đầu đeo đơn tròng sau khi chuyển sang D.I.M.S. cũng chậm lại rõ rệt.
Dữ liệu 6 năm và câu hỏi về hiệu ứng dội ngược
Đây là phần đáng giá nhất với phụ huynh. Nghiên cứu theo dõi 6 năm công bố trên Scientific Reports năm 2023 với 90 trẻ hoàn tất ghi nhận:
- Nhóm đeo D.I.M.S. liên tục suốt 6 năm tăng tổng cộng khoảng 0,92D và trục dài thêm 0,60mm, tính ra chỉ khoảng 0,15D và 0,10mm mỗi năm.
- Tốc độ này ở 3 năm đầu và 3 năm sau không khác biệt có ý nghĩa thống kê, nghĩa là hiệu quả không “đuối” theo thời gian.
- Nhóm đã ngưng đeo không cho thấy bằng chứng của hiệu ứng dội ngược (rebound), tốc độ sau khi ngưng khoảng 0,22D và 0,12mm mỗi năm.
- Các test chức năng thị giác (thị lực chỉnh kính tối đa, thị giác hai mắt, điều tiết) đều nằm trong giới hạn bình thường.
- Nhóm trẻ lớn hơn lúc bắt đầu (10 tới 13 tuổi) gần như không tăng độ, trục dài dưới 0,08mm mỗi năm.
HOYA công bố thêm dữ liệu theo dõi kéo dài tới 8 năm và cho biết không ghi nhận lo ngại an toàn dài hạn.

Công nghệ H.A.L.T. của Essilor trên tròng Stellest

Cấu tạo
H.A.L.T. viết tắt của Highly Aspherical Lenslet Target. Thay vì các ô lệch tiêu rời rạc, Stellest dùng 1021 thấu kính siêu nhỏ dạng siêu phi cầu nằm sát nhau, xếp thành 11 vòng đồng tâm quanh một vùng trung tâm khoảng 9mm dành cho nhìn rõ. Mỗi thấu kính nhỏ này không tạo một điểm hội tụ đơn lẻ, mà tạo ra cả một “khối ánh sáng hội tụ trước võng mạc”, hãng gọi là volume of myopic defocus. Ý tưởng là tín hiệu vẫn nằm trước võng mạc kể cả khi trục nhãn cầu thay đổi hoặc mắt liếc lệch.
Nghiên cứu nói gì
Thử nghiệm ngẫu nhiên, mù đôi 2 năm của Bao và cộng sự công bố trên JAMA Ophthalmology, trên 157 trẻ hoàn tất, tuổi trung bình 10,4 (khoảng 8 tới 13 tuổi), chia ba nhóm: H.A.L. (54 bé), thấu kính phi cầu nhẹ hơn S.A.L. (53 bé), và đơn tròng thường (50 bé):
- Độ cận tăng sau 2 năm: 0,66D ở nhóm H.A.L. so với 1,46D ở nhóm đơn tròng, chậm khoảng 55%.
- Trục nhãn cầu: 0,34mm so với 0,69mm, chậm khoảng 50%.
- Riêng nhóm bé tự báo cáo đeo đủ ít nhất 12 giờ mỗi ngày: chỉ tăng thêm khoảng 0,28mm trục trong 2 năm, tương ứng hiệu quả khoảng 67% về độ và 60% về trục.
Dữ liệu theo dõi 6 năm trên 42 trẻ (so với nhóm đơn tròng mô hình hóa) ghi nhận độ cận tăng 1,50D so với 3,45D, tức thấp hơn khoảng 57%, và trục dài 0,76mm so với 1,57mm, thấp hơn khoảng 52%. Hãng cũng công bố khoảng 90% trẻ đeo đủ giờ có tốc độ dài trục tương đương hoặc chậm hơn trẻ không bị cận.
Thế hệ mới Stellest 2.0 với H.A.L.T. MAX
Phiên bản mới tăng công suất và độ phi cầu của các thấu kính nhỏ, tạo khối ánh sáng không hội tụ sâu gấp khoảng hai lần và nằm xa võng mạc hơn so với thế hệ đầu. Nghiên cứu công bố là thử nghiệm chéo hai mắt kéo dài 12 tháng trên 50 trẻ 6 tới 10 tuổi có độ cận từ 0,50D tới 4,75D, mỗi bé đeo một bên Stellest 2.0 và một bên Stellest thế hệ đầu rồi đổi bên sau 6 tháng. Kết quả cho thấy bên đeo Stellest 2.0 dài trục chậm hơn có ý nghĩa, và tài liệu hãng diễn giải con số này là tốc độ phát triển mắt chậm hơn khoảng 1,88 lần so với thế hệ đầu.

Cần nói rõ để bà con khỏi hiểu lầm: hãng đã đính chính rằng “gấp đôi” ở đây là gấp đôi độ sâu của khối ánh sáng không hội tụ theo thiết kế, không phải gấp đôi công suất tròng và cũng không phải gấp đôi hiệu quả. Cỡ mẫu 50 trẻ trong 12 tháng cũng còn nhỏ so với bộ dữ liệu nhiều năm của thế hệ đầu.
Công nghệ C.A.R.E. của ZEISS trên tròng MyoCare
Cấu tạo
C.A.R.E. là Cylindrical Annular Refractive Elements, các phần tử khúc xạ dạng vòng khuyên trụ. Thay vì các chấm tròn rời, ZEISS dùng những vòng nhẫn xen kẽ giữa vùng nhìn rõ và vùng lệch tiêu, mở rộng dần ra ngoại vi tròng.
Điểm khác biệt lớn nhất là ZEISS làm hai thiết kế theo độ tuổi:
- MyoCare cho trẻ dưới 10 tuổi: vùng trung tâm rõ đường kính 7mm, công suất lệch tiêu trung bình khoảng +4,6D, tín hiệu mạnh hơn cho nhóm tuổi tiến triển nhanh.
- MyoCare S cho trẻ từ 10 tuổi trở lên: vùng trung tâm rõ 9mm, công suất lệch tiêu trung bình khoảng +3,8D, ưu tiên vùng nhìn rõ rộng hơn cho lứa học sinh lớn.
Nghiên cứu nói gì
Thử nghiệm tại Trung Quốc (mã NCT05288335) trên 240 trẻ 6 tới 13 tuổi, kết quả 12 tháng:
- MyoCare: giảm 0,31D tiến triển độ (khoảng 48%) và 0,13mm dài trục (khoảng 41%).
- MyoCare S: giảm 0,29D (khoảng 45%) và 0,11mm (khoảng 34%).
- Chỉ 17% (MyoCare) và 14% (MyoCare S) số trẻ tăng từ 0,75D trở lên trong một năm.
Song song đó, nghiên cứu CEME tại châu Âu (mã NCT05919654) trên 304 trẻ 6 tới 13 tuổi ghi nhận ở mốc 6 tháng: giảm 0,15D tiến triển độ và 0,07mm dài trục. Dữ liệu 2 năm được hãng công bố là hiệu quả tiếp tục duy trì.
Một chi tiết thực tế đáng quan tâm: khi khảo sát cảm nhận của trẻ, 95% đánh giá nhìn xa tốt hoặc rất tốt, 93% với nhìn gần và 96% với nhìn động. Nghĩa là chuyện thích nghi thường không nặng nề như phụ huynh lo.
Thiết kế MyCon của Rodenstock
Rodenstock đi hướng khác: thay vì rải các thấu kính nhỏ khắp vùng ngoại vi, MyCon bố trí vùng kiểm soát tiến triển ở hai bên tròng, nơi ánh sáng ngoại vi dễ rơi ra sau võng mạc nhất, trong khi vùng nhìn chính được giữ liền mạch để bé nhìn sắc nét ở mọi hướng liếc mắt.
Một nghiên cứu độc lập kéo dài 5 năm trên trẻ da trắng 7 tới 14 tuổi ghi nhận giảm tới khoảng 40% tiến triển độ cận, dài trục giảm tới khoảng 56% sau 2 năm và khoảng 35% sau 4 tới 5 năm. Con số 2 năm khá tương đồng nhóm trên, nhưng bà con để ý là hiệu quả trung bình theo năm giảm dần khi kéo dài thời gian, điều này cũng thường gặp ở các nghiên cứu dài hạn nói chung.
So sánh nhanh bốn công nghệ

| Công nghệ | Nguyên lý | Điểm nhận diện | Dữ liệu nổi bật |
|---|---|---|---|
| D.I.M.S. (HOYA MiYOSMART) | Hàng trăm ô nhỏ +3,50D xếp tổ ong quanh vùng trung tâm rõ | Bộ dữ liệu dài nhất, có theo dõi 6 năm và công bố tới 8 năm | 2 năm: chậm 52% độ, 62% trục. 6 năm: khoảng 0,15D và 0,10mm mỗi năm, không thấy rebound |
| H.A.L.T. (Essilor Stellest) | 1021 thấu kính siêu phi cầu, 11 vòng, tạo khối ánh sáng hội tụ trước võng mạc | Nhấn mạnh yếu tố đeo đủ 12 giờ mỗi ngày | 2 năm: chậm 55% độ, 50% trục; đeo đủ giờ đạt 67% và 60%. 6 năm: 57% và 52% |
| C.A.R.E. (ZEISS MyoCare) | Vòng khuyên trụ xen kẽ vùng rõ và vùng lệch tiêu | Có hai thiết kế riêng theo độ tuổi (dưới 10 và từ 10 tuổi) | 12 tháng: giảm 0,31D (48%) và 0,13mm (41%) với MyoCare |
| MyCon (Rodenstock) | Lệch tiêu ngoại vi bố trí ở hai bên tròng | Giữ vùng nhìn chính liền mạch | Tới 40% tiến triển độ; trục giảm tới 56% ở 2 năm, 35% ở 4 tới 5 năm |
Bà con lưu ý giùm: các con số này lấy từ những nghiên cứu khác nhau, khác cỡ mẫu, khác nhóm dân số, khác cách tính nhóm chứng, nên không nên đem so trực tiếp với nhau như so điểm thi. Chúng chỉ cho thấy cả bốn hướng thiết kế đều có bằng chứng, chứ không xếp hạng được ai nhất.
Các nghiên cứu tổng hợp nói gì khi gom hết lại?
Một phân tích gộp gồm 23 thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng trên 13.315 trẻ, thời gian theo dõi từ 1 tới 4 năm ở nhiều khu vực địa lý, cho kết quả gộp như sau khi so với tròng đơn tròng thường:
- Nhóm thấu kính siêu phi cầu H.A.L.: trục nhãn cầu ít hơn khoảng 0,28mm, độ cận ít hơn khoảng 0,52D.
- Nhóm D.I.M.S.: độ cận ít hơn khoảng 0,45D.
- Kính hai tròng: trục ít hơn khoảng 0,19mm.
- Kính đa tròng dạng progressive: độ cận ít hơn khoảng 0,21D, ảnh hưởng lên trục hạn chế.
Kết luận chung của nhóm tác giả rất đáng để phụ huynh ghi nhớ: tròng kính kiểm soát cận thị là một lựa chọn có giá trị và rủi ro thấp, nhưng nên nằm trong một chiến lược tổng thể gồm cả thói quen sinh hoạt và, khi bác sĩ chỉ định, cả thuốc, chứ không phải một món đồ mua về là xong.
Bốn điều nghiên cứu chỉ ra mà quảng cáo ít khi nhắc
1. Đeo đủ giờ quan trọng không kém việc chọn hãng nào
Trong nghiên cứu Stellest, nhóm đeo đủ ít nhất 12 giờ mỗi ngày có kết quả tốt hơn hẳn nhóm đeo lai rai: khoảng 0,48D so với 0,93D về độ, và 0,28mm so với 0,43mm về trục. Nghĩa là một cặp kính tốt bị bỏ trong cặp táp thì cũng bằng không. Cuối tuần, ngày nghỉ, đi chơi vẫn phải đeo.
2. Hiệu quả tính bằng năm, không tính bằng tháng
Không có tròng nào làm độ cận giảm xuống. Cái mà bà con nhận được là sau vài năm, con số độ của bé thấp hơn so với kịch bản không dùng gì. Vì vậy nếu đo lại sau 6 tháng thấy bé vẫn nhích thêm chút đỉnh, đó chưa phải là dấu hiệu thất bại.
3. Lắp đúng tâm mới phát huy được thiết kế
Các tròng này có vùng trung tâm rõ chỉ khoảng 7 tới 9mm. Nếu đo sai khoảng cách đồng tử, chọn gọng quá to hoặc gọng tuột xuống mũi suốt ngày, mắt bé sẽ nhìn lệch ra vùng lệch tiêu, vừa khó chịu vừa mất tác dụng như thiết kế mong muốn. Chọn gọng vừa khuôn mặt bé và chỉnh gọng định kỳ là phần việc không thể bỏ qua.
4. Đáp ứng của mỗi bé mỗi khác
Ngay trong nhóm dùng D.I.M.S., có 21,5% bé không tăng độ chút nào trong 2 năm, nhưng cũng có bé vẫn tăng. Nghiên cứu 6 năm còn cho thấy trẻ bắt đầu ở tuổi lớn hơn thường kiểm soát tốt hơn. Vì vậy việc theo dõi định kỳ và điều chỉnh hướng xử trí quan trọng hơn là tin tuyệt đối vào một con số phần trăm in trên tờ rơi.
Những việc nên làm song song với đeo kính
Tổng quan hệ thống Cochrane năm 2024 gộp 5 thử nghiệm ngẫu nhiên trên 10.733 học sinh tiểu học về việc tăng thời gian hoạt động ngoài trời. Sau 2 năm, tỷ lệ mắc mới cận thị ở nhóm can thiệp là 22,5% so với 26,7% ở nhóm chứng, chênh lệch độ cận khoảng 0,13D và chênh lệch trục khoảng 0,04mm. Các tác giả đánh giá độ chắc chắn của bằng chứng ở mức thấp tới trung bình, và lưu ý bằng chứng cho việc làm chậm tiến triển ở trẻ đã cận còn yếu hơn so với việc phòng ngừa trẻ chưa cận.
Nói cách khác, cho bé ra sân chơi mỗi ngày là việc nên làm và gần như không có hại, nhưng nó không thay thế được tròng kính kiểm soát cận thị, và ngược lại. Ngoài ra, thuốc nhỏ atropine nồng độ thấp cũng là một hướng đang được nghiên cứu nhiều, đôi khi được dùng phối hợp với tròng kiểm soát, nhưng đây là thuốc kê toa, phải do bác sĩ chuyên khoa mắt khám và chỉ định, tiệm kính không tự tư vấn được phần này.
Vậy chọn loại nào cho con?
Ở tiệm, tụi tôi thường trao đổi với phụ huynh theo mấy điểm sau, thay vì trả lời ngay là hãng nào tốt nhất:
- Tuổi của bé và tốc độ tăng độ hai năm gần nhất. Bé còn nhỏ mà mỗi năm tăng nửa độ trở lên thì nhu cầu kiểm soát cấp thiết hơn bé lớn tăng chậm.
- Độ cận hiện tại và độ loạn kèm theo, vì mỗi dòng tròng có giới hạn dải độ sản xuất khác nhau.
- Thói quen sinh hoạt: bé có chịu đeo kính cả ngày không, có chơi thể thao mạnh không, có hay làm rớt kính không.
- Khuôn mặt và khả năng chọn gọng đủ vững để giữ đúng tâm kính.
- Điều kiện tài chính của gia đình, vì nhóm tròng này giá cao hơn tròng thường và nên tính theo lộ trình nhiều năm chứ không phải một lần.
Về nguồn hàng, Mắt Kính Đức Phương đặt được cả tròng MiYOSMART của HOYA (công nghệ D.I.M.S.) và tròng Stellest của Essilor (công nghệ H.A.L.T.), là hai dòng có bộ dữ liệu nghiên cứu dài nhất trong bài này. Bà con cứ đo mắt cho bé trước, có con số cụ thể rồi tụi tôi báo giá và thời gian đặt hàng cho từng loại.
Việc quan trọng trước tiên vẫn là đo mắt cho chính xác. Bà con có thể xem thêm bài kính cận loạn thị trẻ em học đường và bài tư vấn đo mắt cho con tuổi cấp 2 để nắm quy trình. Nếu bé đã đeo kính một thời gian, bài khi nào nên thay tròng kính mới sẽ giúp bà con biết lúc nào cần đổi tròng, còn mức giá tham khảo của các loại tròng thì xem ở trang bảng giá tròng kính.
Câu hỏi thường gặp
Tròng kính kiểm soát cận thị có làm con hết cận không?
Không. Không có tròng kính nào chữa khỏi cận thị. Các nghiên cứu chỉ chứng minh nhóm tròng này làm chậm tốc độ tăng độ và tốc độ dài trục nhãn cầu so với tròng đơn tròng thường. Bé vẫn cần đeo kính để nhìn rõ.
Con mấy tuổi thì đeo được?
Các thử nghiệm lớn được thực hiện chủ yếu trên trẻ từ 6 tới 13 tuổi. ZEISS còn làm riêng hai thiết kế cho nhóm dưới 10 tuổi và từ 10 tuổi trở lên. Thực tế, độ tuổi phù hợp phụ thuộc vào tốc độ tăng độ của từng bé, nên cần đo và theo dõi cụ thể.
Mỗi ngày phải đeo bao lâu?
Nghiên cứu của Essilor lấy mốc ít nhất 12 giờ mỗi ngày là đeo đủ giờ, và nhóm đeo đủ giờ có kết quả tốt hơn rõ rệt. Nguyên tắc chung là đeo cả ngày, kể cả cuối tuần và ngày nghỉ.
Ngưng đeo thì mắt có tăng độ vọt lên không?
Trong nghiên cứu theo dõi 6 năm với tròng D.I.M.S., nhóm ngưng đeo không cho thấy bằng chứng của hiệu ứng dội ngược, tốc độ sau khi ngưng khoảng 0,22D và 0,12mm mỗi năm. Dù vậy, đây là dữ liệu trên một nhóm nghiên cứu nhất định, nên vẫn cần theo dõi định kỳ cho từng bé.
Đeo loại tròng này con có bị mờ hay chóng mặt không?
Vùng trung tâm của tròng vẫn cho nhìn rõ nên thị lực nhìn xa thường không giảm. Một số bé cần vài ngày để quen với vùng ngoại vi. Trong khảo sát của ZEISS, hơn 90% trẻ đánh giá nhìn xa, nhìn gần và nhìn động ở mức tốt hoặc rất tốt. Nếu bé than mờ hoặc nhức đầu kéo dài thì nên mang kính lại tiệm kiểm tra tâm kính và độ.
Bao lâu nên đo lại một lần?
Với trẻ đang trong giai đoạn tăng độ, khoảng 6 tháng nên kiểm tra lại một lần, hoặc sớm hơn nếu bé than nhìn không rõ, nheo mắt, nghiêng đầu. Việc theo dõi đều đặn giúp biết cách kiểm soát hiện tại có hiệu quả hay cần điều chỉnh.
Tròng kiểm soát cận thị khác gì tròng chống ánh sáng xanh?
Hai thứ hoàn toàn khác nhau. Tròng chống ánh sáng xanh là lớp phủ lọc bớt ánh sáng xanh tím, liên quan tới cảm giác dễ chịu khi dùng màn hình, không có thiết kế quang học để làm chậm tăng độ. Tròng kiểm soát cận thị là thiết kế bề mặt tròng, và có thể được phủ thêm lớp lọc ánh sáng xanh nếu gia đình muốn.
Muốn tư vấn kỹ hơn thì ghé tiệm nghen
Chuyện kiểm soát cận thị cho con không giải quyết bằng một lần mua kính, mà là một hành trình vài năm gồm đo đúng, chọn tròng phù hợp, lắp đúng tâm, chỉnh gọng thường xuyên và theo dõi định kỳ. Điều quan trọng nhất bà con có thể làm ngay hôm nay là đưa bé đi đo mắt để biết chính xác độ hiện tại và tốc độ thay đổi.
Mắt Kính Đức Phương ở 72-74 Hai Bà Trưng, phường Phú Lợi, TP Cần Thơ, mở cửa từ 7g30 tới 20g tất cả các ngày, điện thoại 0299 3826 148. Tiệm đo mắt và kiểm tra thị lực miễn phí, có máy đo khúc xạ tự động Nidek và máy đo tâm kính TrueView của Hoya để lắp kính đúng tâm cho bé. Tiệm tư vấn tròng kính của các hãng Essilor, Hoya và Rodenstock, trong đó có cả tròng kiểm soát cận thị MiYOSMART của HOYA và Stellest của Essilor. Bà con cứ ghé, tụi tôi đo cho bé rồi trao đổi cụ thể xem trường hợp của con mình nên đi hướng nào cho hợp lý.




Để lại một bình luận